Địa chỉ : Huyện Phù Mỹ - Tỉnh Bình Định  
 

GIỚI THIỆU XÃ MỸ HIỆP




Trụ sở Ủy ban nhân dân xã

Vị trí địa lý, địa hình :

  Xã Mỹ Hiệp hình thành từ năm 1947, là xã đồng bằng nằm phía Tây Nam huyện Phù Mỹ, có chiều dài 7 km, tổng diện tích tự nhiên là 55,46 km2 / 549,43 km2 diện tích toàn huyện Phù Mỹ.

      - Phía Bắc :  giáp xã Mỹ Quang và xã Mỹ Hoà, lấy cầu Bốn Thôn làm ranh giới tự nhiên giữa 3 xã.

      - Phía Nam : giáp xã Cát Hanh - huyện Phù Cát, lấy sông La Tinh còn gọi là sông Phù Ly làm ranh giới tự nhiên giữa 2 xã Mỹ Hiệp và Cát Hanh.

      - Phía Tây : giáp xã Cát Sơn - huyện Phù Cát, lấy dãy núi Hội Sơn trải rộng từ núi đầu Voi ra đến núi Ông, giáp với chùa Lau xã Mỹ Hoà làm ranh giới tự nhiên giữa 2 xã Mỹ Hiệp và Cát Sơn.

      - Phía Đông :  giáp xã Mỹ Tài, lấy dãy núi Mun, Bằng đầu, núi Chùa ( núi Bút )làm ranh giới tự nhiên giữa 2 xã.

Cơ cấu hành chính :

    - Đảng ủy xã nhiệm kì thứ 19 (2005-2010):  gồm 1 bí thư và 1 phó bí thư

    - Hội đồng nhân dân xã nhiệm kì thứ 10 (2004-2009): gồm 1 chủ tịch và 1 phó chủ tịch

    - Ủy ban nhân dân xã nhiệm kì thứ 10 (2004-2009): gồm 1 chủ tịch và 2 phó chủ tịch

    Các ban ngành đoàn thể

        + Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

        + Hội cựu chiến binh

        + Hội người cao tuổi

        + Hội nông dân

        + Hội phụ nữ

        + Đoàn thanh niên

        + Xã đội

        + Công an xã

        + Ban khuyến nông

        + Ban văn hóa xã hội, ban tuyên giáo ...

    Hình ảnh của ban lãnh đạo xã :

   - Bí thư Đảng ủy kiêm chủ tịch UBND xã : Ông VÕ VĂN THUẬN

       

   - Phó Bí thư Đảng ủy kiêm chủ tịch HĐND xã : Ông PHẠM LƯU KHÁNH

       

   - Phó chủ tịch HĐND xã : Ông TRƯƠNG VĂN CHÂU

       

   - Phó chủ tịch UBND xã : Ông NGUYỄN VIỆT CƯỜNG

       

   - Phó chủ tịch UBND xã : Ông TRẦN MINH TUẤN

       

Đất đai :

   Tổng diện tích đất nông nghiệp : 2673,4 ha. Trong đó:

      - Đất sản xuất nông nghiệp                   : 2150,16 ha

            + Đất trồng cây hàng năm               : 1809,08 ha

            + Đất trồng lúa nước                         : 1145,57 ha

                   * Đất chuyên trồng lúa nước     :    821,96 ha

                   * Đất trồng lúa nước còn lại      :    323,61 ha

            + Đất trồng cây hàng năm khác      :    663,51 ha

            + Đất trồng cây lâu năm                    :   341,08 ha

                   * Đất trồng cây công nghiệp lâu năm : 170,23 ha

                   * Đất trồng cây ăn quả lâu năm           : 9,15 ha

                   * Đất trồng cây lâu năm khác               : 161,7 ha

      - Đất lâm nghiệp                 : 521,63 ha

      - Đất nuôi trồng thủy sản  : 0,13ha

      - Đất nông nghiệp khác     : 1,48 ha

Dân số và lao động :

  -Xã Mỹ Hiệp gồm có 17 thôn: Hoà Nghĩa, Bình Tân Tây , Bình Tân Đông, Trà Bình Tây, Trà Bình Đông, Đại Sơn, Đại Thạnh, Đại Thuận, Vạn Lộc, Tú Dương, An Trinh, Bình Long, Vạn Phước Tây, Vạn Phước Đông, Vạn Thiện, Hữu Lộc, Thạnh An.

 - Dân số trong toàn xã là 15.420 người, trong độ tuổi lao động là 10.130 người

Ngân sách xã :

  Ngân sách bình quân hàng năm của xã : 1.200.000.000 đồng

Thu nhập bình quân đầu người :

  Thu nhập bình quân đầu người :  4.800.000 đồng / người / năm

Định hướng phát triển :

   a.Kinh Tế:

      Phát triển sản xuất nông nghiệp ( cả lâm nghiệp ) toàn diện, đa dạng phù hợp với điều kiện sinh thái, tập trung khai thác hợp lý và sử dụng có hiệu quả tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá phục vụ cho tiêu dùng và xuất khẩu. Đưa giá trị sản xuất nông - lâm nghiệp chiếm 65% trong tổng sản phẩm địa phương vào nam 2010 .

   -Trồng trọt:

      + Những nơi thiếu nước thì chuyển dịch sản xuất 3 vụ lúa bấp bênh sang 2 vụ lúa ăn chắc bằng các giống lúa lai và một vụ màu theo hướng thâm canh tăng giá trị sản xuất của đất.

       + Phát triển cây mì lai cao sản và cây ngô lai ở những chân đất thích hợp.

       + Phát triển cây công nghiệp ngắn và dài ngày, cây thực phẩm có khả năng tiêu thụ và xuất khẩu, trồng cỏ voi để chăn nuôi.

       + Chuyển diện tích 1 vụ lúa sang trồng các cây hoa màu khác như đậu phụng hoặc rau dưa...

       + Cải tạo vườn tạp, vườn rừng để trồng các loại cây có thị trường tiêu thụ, có giá trị kinh tế như xoài, đào.

       + Đẩy mạnh công tác khuyến nông, giúp nông dân áp dụng các tiến bộ khoa học vào sản xuất, tập trung xây dựng các mô hình sản xuất tiên tiến, tập huấn và hướng dẫn kỷ thuật, qui trình kỷ thuật đến từng hộ gia đình.

   - Chăn nuôi:

       + Đẩy mạnh lai tạo đàn bò, nạc hoá đàn heo. Đến năm 2010 đàn trâu có 1200 con, đàn bò có 10200 con trong đó tỷ lệ đàn bò lai đạt 70,5%, đàn lợn lai kinh tế đạt 90%.

       +Khuyến khích phát triển chăn nuôi gia cầm với các loại giống có năng suất cao.

       + Thực hiện tốt công tác tiêm phòng, công tác kiểm dịch để bảo vệ đàn gia cầm, gia súc.

   - Lâm nghiệp:

       + Tận dụng triệt để các nguồn vốn thuộc các dự án với các nguồn vốn huy động trong dân để đẩy mạnh tốc độ trồng rừng, phấn đấu đưa tổng diện tích rừng đạt 820 ha nâng độ che phủ rừng ừ 11,6% lên 25,3% vào năm 2010.

       + Khuyến khích và tạo điều kiện cho nhân dân đầu tư vào xây dựng kinh tế vườn đồi, vườn rừng theo phương thức nông lâm hoặc nông lâm kết hợp

       + Ngăn chặn có hiệu quả nạn phá rừng khai thác lâm nghiệp trái phép.

   - Thủy sản:

       + Tận dụng lợi thế của đập, ao, hồ, ruộng lúa có bờ bao quanh gần vườn nhà để phát triển nuôi cá nước ngọt.

       +Khuyến khích xây dựng cơ sở chế biến, sơ chế, và dịch vụ nghề biển để thu hút lao động, tạo việc làm ổn định, tăng thu nhập cải thiện đời sống.

   - Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp - dịch vụ:

       + Phát triển các ngành nghề truyền thống, mở rộng mạng lưới cơ sở chế biến và sơ chế.

       + Quy hoạch, xây dựng các khu thị tứ, các khu tiểu thủ công nghiệp.

       + Nâng giá trị CN - TTCN - dịch vụ chiếm 35% trong tổng sản phẩm xã hội vào năm 2010.

   - Tài chính - tiền tệ:

       + Phấn đấu thu ngân sách địa phương tăng bình quân từ 8-10% / năm

       + Đẩy mạnh việc huy động nguồn vốn trong xã hội để đầu tư thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội.

   b.Văn hóa xã hội:

   - Tập trung nâng cao chất lượng và hiệu quả của giáo dục đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ KHKT có số lượng đông và đảm bảo chất lượng.

   - Thực hiện nghiêm ngặt các qui định về bảo vệ môi trường , đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục sức khoẻ, thực hiện tốt các chương trình y tế quốc gia về phòng chống các bệnh xã hội và bệnh dịch nguy hiểm.

   - Xây dựng tư tưởng, lối sống văn hoá lành mạnh trong xã hội, mở rộng các phong trào văn hoá, văn nghệ, quản lý tốt các hoạt động văn hóa.

   - Thực hiện các giải pháp để giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, thực hiện tốt chính sách đối với người có công với nước, đẩy mạnh phong trào đền ơn đáp nghĩa.